Spring Airsoft And Friends
Nếu đây là lần đầu tiên vào diễn đàn của bạn, bạn cần phải đăng kí làm thành viên để được hưởng hết quyền lợi của diễn đàn.

Những điều cần biết về nội quy của diễn đàn tại đây.

Những thiết lập cơ bản khi sử dụng diễn đàn tại đây.

F-22 Raptor của Mĩ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

F-22 Raptor của Mĩ

Bài gửi by brahweiz on Tue May 31, 2011 4:55 pm



Lockheed Martin F-22 Raptor (Chim ăn thịt) là một máy bay tiêm kích thế hệ thứ 5 sử dụng kỹ thuật tàng hình thế hệ 4. Ban đầu nó được thiết kế để trở thành một máy bay chiến đấu giành ưu thế trên không trước Không quân Xô viết, nhưng cũng được trang bị cho các nhiệm vụ tấn công mặt đất, chiến tranh điện tử và trinh sát tín hiệu. Với giai đoạn phát triển bị kéo dài, nguyên mẫu loại máy bay này được định danh YF-22, sau đó là F/A-22 trong suốt ba năm trước khi chính thức phục vụ Không lực Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 2005 với tên chính thức F-22A. Lockheed Martin là nhà thầu chính và chịu trách nhiệm chính về khung, các hệ thống vũ khí, và lắp ráp hoàn thành chiếc F-22. Boeing cung cấp cánh, khung đuôi và các hệ thống điện tử tích hợp.

Đặc điểm

F-22 được trang bị hai động cơ phản lực cánh quạt đẩy có buồng đốt lần hai Pratt & Whitney F119-PW-100 tích hợp bộ phận điều chỉnh hướng phụt. Hướng điều chỉnh luồng khí chỉ theo chiều lên xuống, với tầm thay đổi ±20 độ. Lực đẩy tối đa được bảo mật, dù đa số các nguồn tin cho rằng nó khoảng 35.000 lbf (156 kN) cho mỗi động cơ. Tốc độ tối đa được ước tính là Mach 1.72 khi bay ở chế độ siêu tốc và không mang vũ khí ngoài; khi sử dụng các buồng đốt hai lần, tốc độ "lớn hơn Mach 2.0" (2.120 km/h), theo Lockheed Martin. Raptor có thể dễ dàng vượt quá các hạn chế tốc độ thiết kế, đặc biệt ở tầm thấp; cảnh báo tốc độ tối đa giúp ngăn phi công vượt quá các giới hạn đó. Tướng John P. Jumper, cựu Tham mưu trưởng Không quân Hoa Kỳ, đã lái chiếc Raptor ở tốc độ lớn hơn Mach 1.7 mà không cần dùng tới các buồng đốt hai lần ngày 13 tháng 1, 2005. Sự thiếu vắng tấm chắn điều chỉnh cửa khí vào có thể khiến việc đạt tốc độ lớn hơn Mach 2.0 không thể diễn ra, nhưng không hề có bằng chứng nào chứng minh điều này. Những tấm chắn đó có thể được dùng ngăn chặn hiện tượng hoạt động quá mức của động cơ, nhưng chính cửa hút khí cũng có thể được thiết kế cho mục đích này. Cựu phi công thử nghiệm hàng đầu của Lockheed Paul Metz đã bình luận rằng chiếc Raptor có cửa hút khí cố định. Metz cũng nói rằng chiếc F-22 có tốc độ tối đa lớn hơn 1600 mph (Mach 2.42) và tốc độ vọt lên của nó lớn hơn loại F-15 Eagle nhờ những tiến bộ trong kỹ thuật động cơ, dù tỉ lệ lực đẩy trên trọng lượng của chiếc F-15 là khoảng 1.2:1, còn tỷ lệ này của chiếc F-22 gần ở mức 1:1.

Tốc độ tối đa thực sự của chiếc F-22 vẫn chưa được biết, bởi sức mạnh của động cơ chỉ là một yếu tố. Khả năng của khung máy bay chống chịu ứng suất (stress) và nhiệt độ do ma sát là một yếu tố quan trọng, đặc biệt đối với một chiếc máy bay sử dụng nhiều vật liệu polyme như chiếc F-22. Cho dù một số loại máy bay khác có tốc độ cao hơn trên lý thuyết, với khoang chứa vũ khí trong thân, chiếc F-22 có được tính năng hoạt động cao hơn với tải trọng chiến đấu lớn hơn, vì nó không bị lực cản bởi những loại vũ khí treo bên ngoài. Nó là một trong số ít máy bay bay được tốc độ siêu âm mà không cần dùng thêm buồng đốt lần hai. Nhiên liệu tiêu tốn khi sử dụng buồng đốt lần hai làm giảm khá nhiều tầm hoạt động của máy bay.

Chiếc F-22 có tính năng thao diễn rất tốt, cả ở tốc độ siêu âm và dưới siêu âm. Thiết bị điều chỉnh hướng luồng khí phụt của F-22 cho phép nó quay vòng hẹp, và thao diễn được những đường bay phức tạp như kiểu quay vòng chữ J (J-Turn) (hay thao diễn Herbst), rắn mang bành của Pugachyov, và Kulbit, dù kiểu J-Turn có tính ứng dụng cao hơn trong chiến đấu.F-22 cũng có khả năng duy trì góc tấn công liên tục trên 60°. Độ cao bay siêu tốc cũng là một yếu tố rất quan trọng trong thao diễn. Trong cuộc luyện tập tháng 6 năm 2006 tại Alaska, các phi công F-22 thường tận dụng ưu thế độ cao để đạt mức độ tiêu diệt chưa từng có.

Các hệ thống điện tử gồm hệ thống cảnh báo radar (RWR) AN/ALR-94 của BAE Systems E&IS (trước là Sanders Associates), ra-đa AN/APG-77 Mạng ăngten điện tử quét chủ động (AESA) của Raytheon và Northrop Grumman, có lẽ là loại ra-đa quét tích cực có tính năng tốt nhất hiện nay, bắt được các mục tiêu tầm xa mà tín hiệu ít bị phát hiện bởi máy bay địch.

Hệ thống điện tử


Ra-đa AN/APG-77 AESA, được thiết kế để chiếm ưu thế trên không và hỗ trợ trong thực thi nhiệm vụ, với các tính năng khả năng bị phát hiện thấp, độ mở chủ động, mạng quét điện tử có thể truy theo nhiều mục tiêu ở mọi điều kiện thời tiết. Ra-đa AN/APG-77 thay đổi tần số hơn 1.000 lần mỗi giây để giảm khả năng bị ngăn chặn. Ra-đa cũng có thể tập trung luồng phát làm quá tải các cảm biến của kẻ địch, khiến máy bay có khả năng tấn công điện tử.

Thông tin của ra-đa được hai Bộ Xử lý tích hợp chung (BXLC) do Raytheon chế tạo xử lý. Mỗi bộ BXLC xử lý 10.5 tỷ lệnh trên giây và có 300 megabyte bộ nhớ. Thông tin có thể được thu thập từ ra-đa và các hệ thống trên máy bay cũng như hệ thống khác ngoài máy bay, được BXLC lọc, và được cung cấp ở dạng phân loại trên nhiều màn hình hiển thị trong buồng lái, cho phép phi công luôn chủ động trong mọi tình huống phức tạp nhất. Phần mềm của chiếc Raptor được viết ra với hơn 1.7 triệu dòng mã, đa số chúng đảm nhiệm việc xử lý thông tin từ ra-đa. Radar có tầm hoạt động 125-150 dặm, và các kế hoạch nâng cấp cho phép tầm 250 dặm hay hiều hơn với chùm tia hẹp.
Chiếc F-22 có nhiều tính năng duy nhất đối với một chiếc máy bay ở hình dạng và vai trò của nó. Ví dụ, nó có khả năng phát hiện và xác định mối đe dọa tương tự như khả năng của chiếc RC-135 Rivet Joint. Tuy trang bị của chiếc F-22 không tinh vi và mạnh mẽ bằng, bởi tính năng tàng hình của nó, nhưng cự li gần hơn hàng trăm dặm lại là ưu thế lớn trong chiến đấu.

F-22 có khả năng hoạt động như một "Hệ thống Cảnh báo và Kiểm soát trên Không" (AWACS) mini. Dù tính năng có bị giảm bớt để ưu tiên cho bộ phận khung như E-3 Sentry, nhưng đối với tính năng xác định mối đe doạ, sự có mặt phía trước của chiếc F-22 luôn là một ưu thế. Hệ thống cho phép chiếc F-22 xác định rõ các mục tiêu để cùng tham chiến với những chiếc F-15 và F-16, và thậm chí xác định được việc hai máy bay đồng minh đang cùng dự định tấn công một mục tiêu, nhờ thế cho phép cảnh báo chúng lựa chọn một mục tiêu khác. F-22 có khả năng xác định mục tiêu nhanh gấp hàng trăm lần so với việc nhận thông tin từ chiếc.

Khả năng ngăn chặn ra-đa thấp của chiếc F-22, nhờ tính năng truyền tải dữ liệu băng thông rộng, cho phép nó đóng vai trò một "dải băng rộng" có thể truyền dữ liệu tốc độ cao giữa các trạm phát và thu nhận đồng minh trong khu vực. F-22 có thể chuyển dữ liệu sang những chiếc F-22 khác, nhờ vậy làm giảm đáng kể hiệu ứng "nhiễu" sóng vô tuyến.

Trang bị vũ khí


Chiếc Raptor được thiết kế mang các tên lửa không đối không ở khoang trong nhằm tránh gây ảnh hưởng tới khả năng tàng hình của nó. Việc bắn tên lửa đòi hỏi mở cửa khoang vũ khí trong thời gian chưa tới một giây, bởi vì tên lửa được thả xuống nhờ các cánh tay thủy lực. Máy bay cũng có thể mang các loại bom như Bom tấn công ghép nối trực tiếp và loại Bom bán kính nhỏ mới. Nó có thể mang các loại vũ khí trên bốn mấu cứng bên ngoài, nhưng điều này khiến khả năng thao diễn, tàng hình, tốc độ và tầm hoạt động của nó giảm đáng kể. Raptor được trang bị một pháo quay M61A2 Vulcan 20 mm với cửa lật ở đuôi cánh phải. M61A2 là vũ khí sử dụng cuối cùng, và chỉ có 480 viên đạn, đủ bắn trong khoảng 5 giây liên tục. Dù vậy, F-22 từng sử dụng súng của nó trong những cuộc không chiến tầm gần mà vẫn không bị phát hiện, súng sẽ hữu ích khi máy bay đã bắn hết tên lửa.

Đã có một số cuộc nghiên cứu thiết kế về khả năng lắp đặt một loại vũ khí laze, có thể là loại vũ khí từ chương trình Laser chiến thuật năng lượng cao, bên trong khoang vũ khí.

Các lực lượng không quân khác cũng liên tục cải thiện tính năng các loại vũ khí không đối không và không đối đất của mình, đây là một khía cạnh quan trọng F-22 luôn phải lưu tâm. Khả năng duy trì siêu tốc lâu, độ cao hoạt động (một điều thường bị bỏ qua), làm tăng đáng kể tầm hoạt động hiệu quả của cả các loại vũ khí không đối không và không đối đất. Thực vậy, những yếu tố đó có thể là yếu tố cơ bản giải thích tại sao Không lực Hoa Kỳ không theo đuổi các chương trình tên lửa không đối không tầm xa năng lượng cao như MBDA Meteor. Tuy nhiên, Không lực Hoa Kỳ đã đặt kế hoạch mua loại AIM-120D AMRAAM có tầm hoạt động lớn hơn rất nhiều so với loại AIM-120C. Trong trường hợp này, bệ phóng là một xung lực kết hợp rất lớn cho tên lửa. Các tính năng tốc độ, độ cao giúp cải thiện tầm hoạt động của vũ khí không đối đất. Tuy các đặc tính kỹ thuật còn đang được bảo mật, mọi người cho rằng những quả bom Đạn tấn công ghép nối trực tiếp lắp đặt trên chiếc F-22 có tầm hoạt động hiệu quả lớn gấp hai lần so với khi được phóng ra từ những bệ phóng khác. Trong thử nghiệm, một chiếc Raptor đã ném một quả bom tấn công ghép nối trực tiếp 1000 lb từ độ cao 50.000 feet, trong khi bay với tốc độ Mach 1.5, tiêu diệt một mục tiêu di động ở khoảng cách 24 dặm. Bom bán kính nhỏ, khi được phóng ra từ F-22, có tầm hoạt động hiệu quả lớn hơn nhiều, nhờ tỷ lệ nâng trên lực cản của chúng được cải thiện.

Tuy được thiết kế mang vũ khí ở khoang trong để có được tính năng thao diễn chiến đấu tốt nhất, chiếc F-22 vẫn có thể mang thêm vũ khí ngoài. Hai cánh của nó có nhiều mấu treo cứng. Mỗi mấu cứng trên lý thuyết có thể mang 5.000 lb vũ khí. Tuy nhiên, việc mang vũ khí ngoài làm giảm đáng kể tính năng tàng hình, và gây những hiệu ứng bất lợi với tính năng thao diễn. Hai trong số các mấu đó có thể dùng để mang thùng dầu phụ. Vật treo trên mấu có thể được thả ra trong khi bay cho phép máy bay lấy lại tính năng tàng hình khi đã tách hết chúng. Hiện tại một nghiên cứu đang được tiến hành nhằm phát triển loại vỏ bọc vũ khí tàng hình và các mấu treo cho chúng. Một vỏ bọc như vậy sẽ có hình dáng phù hợp mục đích tàng hình và chứa vũ khí bên trong. Nó sẽ mở ra khi phóng tên lửa hay ném bom. Cả vỏ bọc và mấu cứng có thể được thả ra khi không còn cần thiết nữa. Hệ thống này sẽ cho phép chiếc F-22 mang số lượng vũ khí tối đa với mức ảnh hưởng tối thiểu tới khả năng thao diễn. Tuy nhiên, có ý kiến lo ngại về chương trình này bởi các bình nhiên liệu đặt ngoài phải chịu ứng suất lớn hơn khi đặt trên cánh so với khi đặt ở vị trí định trước theo thiết kế.

Đặc điểm kỹ thuật (F-22 Raptor)

Đội bay: 1 người.
Chiều dài: 62 ft 1 in (18.90 m).
Sải cánh: 44 ft 6 in (13.56 m).
Chiều cao: 16 ft 8 in (5.08 m).
Diện tích cánh: 840 ft² (78.04 m²).
Cánh: gốc NACA 64A?05.92, mũi NACA 64A?04.29
Trọng lượng rỗng: 31.670 lb (14.366 kg).
Trọng lượng toàn tải: 55.352 lb(25.107 kg).
Trọng lượng cất cánh tối đa: 80.000 lb (36.288 kg).
Động cơ (phản lực): Pratt & Whitney F119-PW-100
Kiểu phản lực: phản lực cánh quạt với ống phản lực có thể đổi hướng.
Số lượng động cơ: 2
Lực đẩy: 35.000 lb (160 kN).
Tốc độ tối đa: ≈Mach 2.42 (1.600 mph, 2.600 km/h).
Siêu tốc: >Mach 1.72 (1.140 mph, 1.830 km/h).
Tầm hoạt động: 2.000 mi (1.700 nm, 3.200 km).
Trần bay: 65.000 ft (20.000 m).
Tốc độ lên cao: mật
Chất tải: 66 lb/ft² (322 kg/m²).
Tỉ lệ lực đẩy/trọng lượng: 1.26.
Tính năng khác: *Tải gia tốc trọng trường g tối đa: -3/+9.5
trang bị vũ khí:
Súng: 1× 20 mm (0.787 in) M61A2 Hỏa thần súng gatling ở mạn phải cánh, 480 viên.
Vũ khí khi chiến đấu trên không:
6× AIM-120 AMRAAM
2× AIM-9 Sidewinder
Vũ khí khi oanh kích mặt đất:
2× AIM-120 AMRAAM và
2× AIM-9 Sidewinder và một trong những thứ sau:
2× 1.000 lb Bom tấn công ghép nối trực tiếp - Joint Direct Attack Munition hay
2× Bom chùm tùy chỉnh theo hướng gió - Wind Corrected Munitions Dispensers hay
8× 250 lb Bom đường kính nhỏ GBU-39 SDB

Ghi chú: Ước tính cho rằng các khoang chứa vũ khí trong có thể mang 2.000 lb (910 kg) bom, và/hay tên lửa. Bốn mấu cứng bên ngoài có thể lắp các loại vũ khí hay thùng nhiên liệu phụ, mỗi mấu có khả năng mang khoảng 5.000 lb (2268 kg), và ảnh hưởng ở một số mức độ tới khả năng tàng hình của máy bay. Một số loại vũ khí vẫn được xếp hạng tối mật. Máy bay ở mức tầm vóc này kể từ loại Thần sấm F-105 nói chung đạt yêu cầu mang tối đa ở các mấu cứng bên ngoài trong mức 14.000-15.000 lb và trọng lượng vũ khí chiến đấu trong khoảng 4.000-8.000 lb

Điện tử:
Ra-đa: 125-150 dặm (200-240 km) với các mục tiêu 1 m² (tầm ước tính)

Một số hình ảnh của F-22 Raptor:


F-22 chuẩn bị vượt tường âm thanh.


F-22 bẻ lướt gió trong một cuộc thử nghiệm.


Buồng lái chiếc F22


F22 thả pháo sáng


Khoang chứa vũ khí của F-22 Raptor mở ra.

_________________
avatar
brahweiz
Tân binh

Tổng số bài viết : 35
Ngày nhập ngũ : 27/05/2011

Về Đầu Trang Go down

Re: F-22 Raptor của Mĩ

Bài gửi by Boo on Tue May 31, 2011 4:59 pm

Chiếc này mình rất khoái. Hồi trước nhớ có cái trò F22 chơi trên win 98 hay vãi, bây h chẳng biết tìm ở đâu để mà chơi nữa hic. Thanks!
avatar
Boo
Trung tá

Tổng số bài viết : 910
Ngày nhập ngũ : 25/05/2011

Về Đầu Trang Go down

Re: F-22 Raptor của Mĩ

Bài gửi by snowangel27 on Sun Jun 05, 2011 9:37 pm

BlackHawk đã viết:Chiếc này mình rất khoái. Hồi trước nhớ có cái trò F22 chơi trên win 98 hay vãi, bây h chẳng biết tìm ở đâu để mà chơi nữa hic. Thanks!
Bạn chiến Tomclancy HAWX đi!!!!Đảm bảo bạn mê liền!!!!Chơi hết phần single thì bắn onl với mình nhá!!!!Lun lun túc trực tren garena Singapore!!!
avatar
snowangel27
Trung úy

Tổng số bài viết : 194
Ngày nhập ngũ : 05/06/2011

Về Đầu Trang Go down

Re: F-22 Raptor của Mĩ

Bài gửi by Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết